Trang chủ   |   Liên hệ        Tiếng Việt   English

 
BỆNH DỊCH TẢ VỊT VÀ TIÊM PHÒNG VACXIN
Cập nhật lúc: 6:30:28 AM 29/06/2012, lượt xem: 699
Bệnh dịch tả vịt (DTV) là bệnh truyền nhiễm do herpesvirus gây ra trên vịt, ngỗng, ngan và một số loài thủy cầm hoang dã khác. Bệnh xuất hiện lần đầu trên thế giới vào năm 1923 ở Hà Lan.
Bệnh dịch tả vịt (DTV) là bệnh truyền nhiễm do herpesvirus gây ra trên vịt, ngỗng, ngan và một số loài thủy cầm hoang dã khác. Bệnh xuất hiện lần đầu trên thế giới vào năm 1923 ở Hà Lan. Ở Việt Nam, những ổ dịch DTV được phát hiện trên các đàn vịt nuôi ở Hà Nội vào năm 1969, từ đó xuất hiện rộng rãi ở nhiều tỉnh thuộc đồng bằng Bắc bộ và các tỉnh Nam bộ. Bệnh DTV thường truyền lây do tiếp xúc trực tiếp giữa đàn vịt bệnh và vịt khỏe. Hoặc có thể do tiếp xúc gián tiếp qua môi trường có mầm bệnh như các nguồn nước, người chăn nuôi, dụng cụ chăn nuôi..vv. Virut DTV có trong máu, phủ tạng và các chất bài tiết như phân, nước mũi, nước mắt từ vịt bệnh hoặc từ các loài thủy cầm hoang dã di trú theo mùa có mang trùng virut DTV được bài thải ra và tồn tại trong các nguồn nước ao, hồ. Những đàn vịt cảm thụ khác đến sinh sống trên các nguồn nước này sẽ bị nhiễm bệnh. Ở đồng bằng sông Cửu Long, bệnh DTV thường xảy ra quanh năm nhưng cao nhất từ tháng 3 đến tháng 7. Triệu chứng: Thời gian ủ bệnh từ 3 – 7 ngày. Đầu tiên vịt bỏ ăn, uể oải, chảy nước mũi và nước mắt, niêm mạc mắt đỏ (người dân gọi là bệnh mắt đỏ), mí mắt sưng dày lên và dính liền lại, sợ ánh sáng, khó thở. Có con bị sưng phù đầu, sờ nắn thấy mềm nhũn (nên còn gọi là bệnh sưng đầu), đôi khi vùng hầu và cổ cũng bị phù. Vịt sốt cao 42-43,50C và kéo dài từ 2 – 3 ngày nên vịt khát nước và uống nhiều nuớc (do đó thường thấy xác vịt chết gần máng uống nước). Vịt tiêu chảy phân xanh dính ở hậu môn, nếu bệnh chuyển sang giai đoạn trầm trọng thì tiêu chảy phân đen do xuất huyết trong đường ruột. Trên đàn vịt đẻ, sản lượng trứng giảm trong khoảng từ 25 - 40%. Hầu hết vịt có biểu hiện của bệnh đều bị chết. Tỷ lệ vịt bệnh và chết dao động từ 5 - 100%. Bệnh tích: Các bệnh tích điển hình của bệnh DTV là: kết mạc xuất huyết, phù thũng dưới da đầu và cổ. Thực quản có xuất huyết tạo vệt dài và có màng giả một phần hay toàn bộ dọc theo nếp gấp của thực quản. Ruột có xuất huyết lấm tấm hay xuất huyết mảng, và thường có 4 vòng xuất huyết ở các tổ chức lympho của ruột. Trực tràng và hậu môn thường có xuất huyết, đôi khi có loét và có màng giả. Gan xuất huyết, có điểm họai tử nhỏ. Cần chẩn đoán phân biệt bệnh DTV với các bệnh tụ huyết trùng gia cầm, bệnh viêm gan do virut ở vịt, bệnh Newcastle và bệnh cúm gia cầm. Miễn dịch: Khả năng bảo hộ vịt bao gồm miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào. Tiêm vacxin DTH nhược độc sẽ tạo miễn dịch chủ động cho vịt. Ở vịt con, kháng thể thụ động truyền qua trứng giảm rất nhanh, do đó vịt con từ vịt mẹ có tiêm vacxin rất mẫn cảm với virut DTV. Biện pháp phòng và chống bệnh - Phòng bệnh bằng vacxin: Do bệnh DTV không trị được bằng thuốc nên tiêm phòng vacxin DTV là biện pháp hữu hiệu nhất trong quy trình phòng chống bệnh này ở các đàn vịt. Vacxin DTV chết thì không có hiệu quả bằng vacxin sống, nhược độc thích ứng trên phôi gà. Vacxin DTV nhược độc này rất an toàn và có hiệu lực miễn dịch rất nhanh và mạnh. Vịt được tiêm vacxin DTV sẽ không bài thải virut vacxin ra môi trường và lây nhiễm cho vịt tiếp xúc. Vacxin DTV nhược độc có thể được sản xuất trên phôi vịt hay trên tế bào xơ phôi gà. Để nâng cao chất lượng của vác xin DTV, Công ty Thuốc thú y TW – NAVETCO đã hợp tác với trường Đại học Queensland (thuộc dự án ACIAR - Úc), nghiên cứu thành công vacxin DTV sản xuất trên môi trường tế bào xơ phôi gà một lớp. Vacxin này không những có hiệu lực phòng bệnh tốt, mà còn giảm bớt các nguy cơ lây truyền một số bệnh qua trứng vịt. Lịch tiêm phòng vacxin DTV như sau: Đối với vịt nuôi thịt nên tiêm 2 lần. Tiêm vacxin lần 1 trong khoảng từ 3 đến 5 ngày tuổi và lần tiêm 2 sau lần 1 từ 2 đến 3 tuần. Đối với vịt đẻ: tiêm lần 1 và 2 giống như tiêm vacxin cho vịt thịt và lần 3 vào lúc 5 tháng tuổi. Cần tiêm nhắc lại trước mỗi vụ đẻ. - Phòng bằng biện pháp vệ sinh: Phòng ngừa bằng cách không cho vịt con phơi nhiễm với mầm bệnh. Công tác vệ sinh chuồng trại cần được thực hiện thường xuyên, đảm bảo cách ly tốt, ngăn ngừa sự lây nhiễm từ ngoài vào thông qua chế độ kiểm dịch nghiêm ngặt. Khi bệnh DTV xuất hiện trong đàn, tiến hành giảm đàn, loại bỏ vịt bệnh, vệ sinh và sát trùng chuồng trại là các biện pháp kiểm soát bệnh có hiệu quả nhằm tránh phát tán virut ra môi trường. Trong trường hợp khẩn cấp, để dập dịch khi bệnh vừa mới xảy ra, nên cách ly những vịt đã có dấu hiệu của bệnh, còn những vịt trông khỏe mạnh thì tiêm vacxin DTV nhược độc cho tất cả vịt này. Vịt sẽ được bảo vệ ngay sau khi tiêm nhờ hiện tượng cản nhiễm của vacxin nhược độc. Tuy nhiên, vacxin không có hiệu quả bảo vệ đối với vịt đang ủ bệnh hoặc đàn vịt có các dấu hiệu của bệnh và có trên 50% vịt bị chết.
ThS. Nguyễn Thị Thu Hồng(Trung Tâm Nghiên Cứu Thú Y – Công ty NAVETCO)





NAVETCO
Ngày nay với sự phát triển vượt bậc của ngành nuôi trồng thuỷ sản với qui mô thâm canh và bán thâm canh thì nguồn thức ăn tự nhiên sẽ không đủ cung cấp các thành phần dinh dưởng cho tôm , cá như protein , chất béo , vitamin , khoáng chất … , điều này sẽ ảnh hưởng đến quá trình phát triển của tôm , cá , ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm khi xuất khẩu .
Trong năm 2010 vừa qua , Việt Nam xuất khẩu được 1,353 triệu tấn thuỷ , hải sản , thu được hơn 5 tỷ USD, tăng 11,3% về khối lượng và 18,4% về giá trị so với 2009 trong đó đồng bằng sông Cửu long là khu vực có vị trí chiến lược trong việc nuôi và xuất khẩu thuỷ sản .
Sán lá gan là bệnh phổ biến trên thế giới, trâu, bò, dê, cừu và người đều mắc bệnh .Bệnh do 2 loài sán lá gan gây ra là Fasciola hepatica và Fasciola gigantica. Fasciola gigantica có chu trình phát triển, bệnh lý và phòng, trị như Fasciola hepatica. Fasciola hepatica có dạng hình chiếc lá ( 30 x 13mm), trứng (140 x 80 micromet).
Interferon (IFN) được Issaacs & Lindenmann (1957) phát hiện khi tiêm vi rút cúm vô họat vào màng niệu mô của phôi gà, là một nhóm các protein được sản xuất bởi các tế bào của hệ miễn dịch ở hầu hết các động vật nhằm chống lại các tác nhân ngoại lai như vi rút, vi khuẩn, ký sinh trùng.
Trong nước
Ngoài nước

Hỗ trợ trực tuyến

P. KDTT: (08) 38250361
     

Số lượt truy cập: 1274664
Đang trực tuyến: 25
Giấy phép cung cấp thông tin trên Internet (ICP) số 168/GP-BC cấp ngày 02/05/2007.
© 2011, bản quyền thuộc NAVETCO. Bảo lưu mọi quyền. Ghi rõ nguồn “navetco.com.vn” khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này.