Trang chủ   |   Liên hệ        Tiếng Việt   English

 
Bệnh Tụ Huyết Trùng Gia Cầm
Cập nhật lúc: 9:46:33 AM 02/07/2012, lượt xem: 18367
Bệnh Tụ Huyết Trùng Gia Cầm – THTGC là bệnh truyền nhiễm gây ra ở tất cả các loài gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng và ở các lứa tuổi đều có thể mắc bệnh. Tỷ lệ chết có thể lên tới 80-90% nếu không can thiệp thuốc kháng sinh kịp thời.
1. Giới thiệu Bệnh Tụ Huyết Trùng Gia Cầm – THTGC là bệnh truyền nhiễm gây ra ở tất cả các loài gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng và ở các lứa tuổi đều có thể mắc bệnh. Tỷ lệ chết có thể lên tới 80-90% nếu không can thiệp thuốc kháng sinh kịp thời. Bệnh xảy ra quanh năm nhưng thường tập trung nhất vào những lúc giao mùa như từ mùa xuân sang hè và thu sang đông ở Miền Bắc và từ mùa mưa sang mùa khô (hoặc ngược lại) ở miển Nam. Bệnh có thể lây nhiễm trực tiếp từ gia cầm mắc bệnh sang gia cầm mẫn cảm hoặc qua gián tiếp như dụng cụ chăn nuôi, côn trùng, người chăn nuôi…vv.
2. Tác nhân gây bệnh Bệnh nguyên là vi khuẩn tụ huyết trùng, tên khoa học Pasteurella multocida, có kháng nguyên vỏ nhầy thuốc nhóm A, D gây ra. Vi khuẩn bắt màu gram (-), hình trứng, kích thước 0.2–0.4 × 0.6–2.5 µm, dễ dàng phát triển trên các môi trường nuôi cấy thông thường hoặc trên các môi trường dinh dưỡng đặc biệt thạch máu, thạch huyết thanh.
3. Triêu chứng lâm sàng Khác với hầu hết các bệnh mà ta thường gặp trên gia cầm như bệnh Newcastle, dịch tả vịt (DTV), bệnh do E.coli, bệnh Gumboro… gà, vịt khi mắc bệnh tụ huyết trùng, trong ổ dịch thường chết bất ngờ, không có biểu hiện triệu chứng. Sau 2-3 ngày trong đàn gia cầm có hiện tượng bỏ ăn, lười vận động, tiêu chảy phân trắng lẫn máu, thở khó, sốt cao ở một số con trong đàn (biểu hiện này xảy ra ở vịt rõ hơn gà), vào giai đọan cuối số gà, vịt bị tiêu chảy phân trắng nhớt, viêm khớp tăng lên.
4. Bệnh tích Biểu hiện bệnh tích thường thấy trong các trường hợp bệnh điển hình là: Tim xuất huyết vệt hoặc lấm tấm ở vành tim, cơ tim, bao tim có dịch vàng, phổi xuất huyết, bề măt gan có điểm họai tử lấm tấm nhỏ bằng đầu đinh ghim hoặc là vệt sáng tối dọc theo chiều dài gan, gan không sưng, buồng trứng xuất huyết, ruột xuất huyết từng mảng lớn hay lấm chấm, dịch ruột chứa phân có lẫn máu, viêm khớp cẳng chân hay đùi (hay gặp trong những trường hợp mãn tính).
5. Chẩn đóan bệnh Bệnh tụ huyết trùng gia cầm (THTGC) không khó phân biệt với các bệnh gia cầm khác dựa vào các dấu hiệu đầu tiên của ổ dịch là: chết xảy ra bất ngờ (đang đẻ, đang ăn). Triệu chứng này chỉ giống với bệnh cúm gia cầm (CGC), nhưng sang đến ngày thứ 2 trở đi các triệu chứng có thể phân biệt được rõ như gia cầm bị cúm biểu hiện liệt xoăn vặn cổ, co giật, mí mắt phù nề, lớp da gần khớp chân gà xuất huyết trong khi đó bệnh THTGC không có những biểu hiện này. Trong bệnh THT, gan có chấm hoại tử giống như gan bệnh CGC, nhưng gan không sưng, bở, bụng không chứa nhiều dịch vàng có hồng cầu như bệnh CGC và dạ dày tuyến, cơ không có vệt hay điểm xuất huyết như bệnh NCX, DTV, CGC. Lá lách không sưng như bệnh do Salmonella, hay bệnh CGC. Tuyến fabricius của gà trong bệnh THTGC cũng không sưng như trong bệnh Gumboro.
6. Phòng ngừa và điều trị Cần giữ cho gia cầm không bị stress, chuồng trại phải thông thoáng, sạch sẽ, thức ăn đầy đủ dưỡng chất và vitamin, nước cung cấp phải sạch, không để con vật quá nóng hoặc lạnh. Thực hiện chặt chẽ nội qui về an tòan và vệ sinh thú y trong chăn nuôi, con người, dụng cụ trang thiết bị khi tiếp xúc với gia cầm phải bảo đảm an toàn dịch bệnh. Không nuôi các vật khác loài cùng trại. Chủ động phòng bệnh bằng vác xin cho gia cầm, đặc biệt trước các thời điểm chuyển mùa. Hiện nay vác xin THT gia cầm do công ty thuốc thú y TW –NAVETCO sản xuất là vác xin vô họat với chất bổ trợ là keo phèn hoặc nhũ dầu. Vác xin được sản xuất dùng chủng phân lập từ các ổ dịch THT gia cầm tại Việt Nam nên có tính tương đồng kháng nguyên cao và hiệu quả bảo hộ của vác xin rất tốt so với vác xin nhập từ nước ngoài vào hoặc vác xin chế tạo trong nước nhưng dùng chủng vi khuẩn của nước ngoài. Liều vác xin được sử dụng từ 0,5 – 1ml/con/tiêm dưới da hoặc bắp thịt. Đối với đàn gia cầm giống nên sử dụng vác xin nhũ dầu. Trong trường hợp, đàn gia cầm khỏe mạnh, nhưng đang năm trong vùng dịch và có nguy cơ cao, ngoài bổ xung kháng sinh trực tiếp vào thức ăn hoặc nước uống, nên tiến hành tiêm vác xin cho toàn đàn. Đối với đàn gia cầm bị mắc bệnh, cần nhanh chóng sử dụng kháng sinh với liệu trình 3-5 ngày, đồng thời bổ sung vitamin, dung dịch điện giải giúp nâng cao sức đề kháng con vật, tăng hiệu quả điều trị. Sau thời gian điều trị, tuy tình hình sức khỏe của đàn gia cầm. Kết hợp với các biện pháp nêu trên, cần tiến hành công tác tiêu độc khử trùng chuồng trại và môi trường xung quanh.bằng các lọai thuốc thông dụng như nhóm Navet – Benkocid, Navet- Kons, Navet-Iodine.





NAVETCO
Ngày nay với sự phát triển vượt bậc của ngành nuôi trồng thuỷ sản với qui mô thâm canh và bán thâm canh thì nguồn thức ăn tự nhiên sẽ không đủ cung cấp các thành phần dinh dưởng cho tôm , cá như protein , chất béo , vitamin , khoáng chất … , điều này sẽ ảnh hưởng đến quá trình phát triển của tôm , cá , ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm khi xuất khẩu .
Trong năm 2010 vừa qua , Việt Nam xuất khẩu được 1,353 triệu tấn thuỷ , hải sản , thu được hơn 5 tỷ USD, tăng 11,3% về khối lượng và 18,4% về giá trị so với 2009 trong đó đồng bằng sông Cửu long là khu vực có vị trí chiến lược trong việc nuôi và xuất khẩu thuỷ sản .
Sán lá gan là bệnh phổ biến trên thế giới, trâu, bò, dê, cừu và người đều mắc bệnh .Bệnh do 2 loài sán lá gan gây ra là Fasciola hepatica và Fasciola gigantica. Fasciola gigantica có chu trình phát triển, bệnh lý và phòng, trị như Fasciola hepatica. Fasciola hepatica có dạng hình chiếc lá ( 30 x 13mm), trứng (140 x 80 micromet).
Interferon (IFN) được Issaacs & Lindenmann (1957) phát hiện khi tiêm vi rút cúm vô họat vào màng niệu mô của phôi gà, là một nhóm các protein được sản xuất bởi các tế bào của hệ miễn dịch ở hầu hết các động vật nhằm chống lại các tác nhân ngoại lai như vi rút, vi khuẩn, ký sinh trùng.
Trong nước
Ngoài nước

Hỗ trợ trực tuyến

P. KDTT: (08) 38250361
     

Số lượt truy cập: 1275256
Đang trực tuyến: 32
Giấy phép cung cấp thông tin trên Internet (ICP) số 168/GP-BC cấp ngày 02/05/2007.
© 2011, bản quyền thuộc NAVETCO. Bảo lưu mọi quyền. Ghi rõ nguồn “navetco.com.vn” khi bạn sử dụng lại thông tin từ website này.